Thứ Hai, 27 tháng 11, 2017

432- HOA LAN LUNATA




432- HOA LAN LUNATA

Đài cánh tươi xanh, vệt đốm nâu
Nụ môi trắng tía điểm tâm màu
Brazil đất mẹ gìn chung thủy
Đi khắp phương trời vẫn nhớ nhau.

BXP 26.11.2017

Hoa Lan - Aspasia lunata

Giả hành dài 6 cm, gần như dẹt hoàn toàn. Lá dài 20 cm. Vòi hoa cao 9-10 cm, có từ 1 đến 3 hoa. Hoa to 7,5 cm. Các lá đài và cánh hoa màu xanh, có những vệt hoặc đốm màu nâu. Môi hoa trắng, có những điểm đỏ tía ở tâm.
Xuất xứ: Brasil.

431- HOA LAN EPIDENDROIDES

75- Chi LanAspasia

Phân bố: Có 8 loài ở vùng nhiệt đới Hoa kỳ. Lan biểu sinh hoặc cũng có khi là thạch lan, mọc thành từng cụm, thân rễ ngắn.
Các giả hành hình ê-lip hoặc hình trứng dẹt với một cuống ngắn ở gốc, đồng thời cũng ở gốc được một lớp vỏ lụa của hai lá bao bọc. Một hai lá đó mọc từ đỉnh của giả hành. Lá có hình mũi mác cho đến hình đai (strap). Vòi hoa xuất phát từ trong lớp vỏ lụa bọc ở gốc, ngắn hơn lá, hướng lên trên và không phân nhánh, có ít nhất 1 hoa, màu hoa rực rỡ. Các lá đài không theo quy ước, phẳng. Các cánh hoa ngắn hơn nhưng rộng hơn các lá đài. Môi gắn với trụ hoa ở phần gốc, tạo thành một góc vuông với trụ hoa, môi liền hoặc có ba thùy, ở phần gốc của môi thu hẹp lại, đỉnh môi mở rộng và thường gợn sóng.
431- HOA LAN EPIDENDROIDES

Đài vàng xanh trộn, vệt cô la (socola)
Môi trắng, hoa mang sắc tím cà
Cựa đốm nơi tâm, hương ngát tỏa
Sống vùng Trung Mỹ - Cô Lông Ba (Colombia)

BXP 26.11.2017

Hoa Lan - Aspasia epidendroides

Cùng loài: Aspasia fragrans Klotzsch
Giả hành cao 7-20 cm, to 1-4 cm. Lá dài 15- 30 cm, rộng 2-5 cm. Vòi hoa dài 10-25 cm, có ít hoa, hoa to 3,5 cm, có hương thơm và màu sắc khác nhau. Các lá đài màu xanh pha vàng đến đỏ đồng, với những vệt màu sô-cô-la hoặc tím. Các cánh hoa màu tím hoa cà hoặc đỏ đồng. Môi hoa màu trắng kem với cái cựa có những đốm ở tâm. Lan biểu sinh trong những khu rừng ẩm ướt, trên độ cao 0-1.100 m ở Trung mỹ tới Colombia.

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

B.430- HOA LAN GRAMINIFOLIA


74- Chi Lan Arundina

Phân bố: Có 1 loài ở vùng nhiệt đới châu Á. Là loài địa lan, có thân giống cây sậy. Mọc thành từng cụm, thân rễ ngắn. Lá giống như lá cỏ, ở phần gốc lá có một lớp màng lụa bao quanh. Vòi hoa cụt và có nhiều hoa, lá đài và cánh hoa phẳng không theo quy ước, các lá đài có hình mũi mác, đầu nhọn, các cánh hoa thì mở rộng. Môi có ba thùy, cuộn vào trụ hoa, rìa gợn sóng. Có 8 khối phấn.
B.430-  HOA LAN GRAMINIFOLIA

Tưởng nàng “Hoàng hậu” đứng khoe tươi
Đâu biết Gra Mi* nhoẻn miệng cười
Hồng tím thùy môi phô vẻ đẹp
Á châu nhiệt đới trụ duyên đời.

BXP 26.11.2017
*LanGraminifolia
Hoa Lan Graminifolia - Arundina graminifolia

Cùng loài: Arundina chinensis Blume, Arundina speciosa Blume và nhiều loài khác.
Thân cây cao từ 50 cm đến 250 cm, đôi khi có phân nhánh, lá mọc ở phần nửa trên của cây.
Vòi hoa dài 30-40 cm, có thể phát hoa 1 hoặc 2 đợt trong một lần. Hoa có màu khá rực rỡ, trông giống như một bông hoa Cattleya nhỏ, có hương thơm nhưng nhược điểm là chóng tàn. Hoa màu hồng hoặc màu tím hoa cà, môi hoa thường có màu đậm hơn với một mảng màu vàng. Các lá đài dài 4 cm. Sống trên các vạt cỏ trên sườn đồi, cạnh đường đi, trên độ cao 200-1.420 m ở vùng nhiệt đới châu Á.

B.429- HOA LAN SPICATUM





B.429- HOA LAN SPICATUM

Một mét thân cao lá hẹp dày
Màu hồng tươi thắm gửi hồn ngây
Trên hai ngàn mét Mê Hi* trụ
Son sắt tình em trải tháng ngày.

BXP 26.11.2017
* Mexico
Hoa Lan Spicatum - Arpophyllum spicatum

Cây cao tới 100 cm. Lá dầy và hẹp, cắt ngang ta thấy như hình chữ V, hơi cong. Vòi hoa dài 15 cm. Hoa màu hồng. Môi hoa thì có màu đậm hơn. Là loài lan biểu sinh, thạch lan hoặc địa lan, trong những khu rừng thưa trên độ cao 1.000- 2.400 m ở Mexico Nam tới Colombia và Venezuela.

B.428- LAN BÀN CHẢI CỌ CHAI

73- Chi LanArpophyllum

Phân bố: Có 4 loài ở Trung Mỹ, miền bắc của Nam Mỹ và Jamaica. Vừa là địa lan, lan biểu sinh và thạch lan, thân rễ dày, các giả hành hình ống hẹp, ở gốc mỗi giả hành được bao bọc với một lớp vỏ lụa mỏng. Trên đỉnh mỗi giả hành có 1 lá, lá cứng, dầy và hình mũi mác hẹp hoặc hình đai (strap), hơi uốn cong. Vòi hoa thẳng hướng lên trên, có nhiều hoa nhỏ màu hồng hoặc đỏ tía. Các lá đài phẳng, hình trứng hoặc hình tam giác cân. Cánh hoa nhỏ hơn lá đài. Môi hoa liền, phần gốc giống cái túi. Có 8 khối phấn.
Arpophyllum alpinum
B.428-  LAN BÀN CHẢI CỌ CHAI

Lá trường năm tấc có hình đai
Mang sắc hồng tươi thắm nhụy đài
Gần mét thân cao hoa mọc thẳng
Nồng nàn âu yếm gửi tình ai.

BXP 26.11.2017

Lan Bàn chải cọ chai - Arpophyllum giganteum

Là một loài lan lớn, cao tới 70-100 cm. Các giả hành cao 20 cm, to 1 cm, được bọc một lớp vỏ lụa mỏng. Lá dài 55 cm, rộng 2 cm, hình đai (strap). Vòi hoa dài 25-40 cm, hoa to 2 cm, không chúc xuống, có màu hồng hoặc màu đỏ tươi.
Có ba loài phụ đã được ghi nhận. Loài giganteum xuất hiện từ Mexico tới miền tây bắc Venezuela. Loài phụ alpinum (Lindley) Dressler (cùng loài arpophyllum alpinum Lindley) đến từ đông nam Mexico và Trung Mỹ, loài này có vòi hoa ngắn hơn, hoa mọc không sít nhau. Loài phụ medium (Reichenbachf.) Dressler cũng có cùng phân bố như loài phụ alpinum. Là loài lan biểu sinh ở những khu rừng có mưa nhiều, trên độ cao 700-1.850 m ở Mexico Nam cho đến Colombia và Venezuela.

B.427- HOA LAN BULBOSA

72- Chi LanArethusa

Phân bố: Có 1 loài ở Canada và Hoa kỳ.
Loài địa lan thân hành, mọc từ dưới mặt đất. Lá đơn,hẹp, xuất hiện sau khi ra hoa. Vòi hoa nhỏ, hướng lên trên, chỉ có 1 hoa, người ta ít thấy chúng có 2 hoa. Các lá đài và cánh hoa tương tự như nhau, các lá đài thì dựng đứng hoặc gần như vậy, còn các cánh hoa thì lại chĩa về phía trước. Môi hoa có ba thùy bị che khuất với một cái vuốt ngắn, đối diện với một vật như cái đĩa có bờm. Có 2 khối phấn.



B.427- HOA LAN BULBOSA

Bốn tấc (40cm) vòi hoa sắc đậm hồng
Bờm vàng môi tía có vui không?
Giữa trời nắng Hạ phô duyên thắm
Đất lạng Cà Na giữ mặn nồng.

BXP 26.11.2017
Hoa Lan Bulbosa - Arethusa bulbosa

Lá dài 20 cm, rộng 1 cm, thuộc loài thảo mộc. Vòi hoa cao 40 cm.
Hoa dài 5 cm, có màu hồng nhạt hoặc hồng đậm, cũng có trường hợp là màu trắng. Môi hoa dài 45 mm, hình thuôn, điểm thêm màu đỏ tía với một cái bờm màu vàng. Ra hoa vào cuối xuân hè.
Sinh trưởng ở vùng đầm lầy giàu acid và trên những đồng cỏ ẩm ướt ở miền đông bắc Canada và Hoa kỳ.

B.426- LAN BÁO – LEOPARD ORCHID

71- Chi LanBáo Ansellia

Phân bố: Một biến loài được phát hiện ở vùng nhiệt đới và Nam Phi.
Lan biểu sinh đa thân, rất ít khi thấy chúng là địa lan hay thạch lan. Các giả hành tạo thành cụm, giống cây sậy, có nhiều đốt, dọc thân là những khe rãnh nhỏ. Thân có màu xanh hoặc xanh pha vàng, lá hướng lên trên đỉnh của thân. Rễ chia thành hai loại: rễ lớn mọc trở xuống và bám vào bề mặt chất trồng; Rễ nhỏ hướng lên trên bao chung quanh gốc cây lan. Vòi hoa cụt, có phân nhánh. Các lá đài và cánh hoa không theo quy ước và phẳng. Có 4 khối phấn, chia thành 2 cặp.
Trong quá khứ có nhiều loài, các loài phụ hoặc các biến loài được mô tả, song tất cả chúng đều khác nhau về kích thước và màu sắc của hoa, do đó người ta nhận thấy chúng không có sự liên hệ với nhau về hình thái cũng như nơi xuất xứ.

B.426- LAN BÁO – LEOPARD ORCHID

Lá mọc hai hàng sắc đậm xanh
Đốm loang da báo kết nên thành
Hai ngàn hai mét … lưng trời trụ
Giữ mối duyên nồng vẫn đợi anh.

BXP 26.11.2017

Lan Báo - Ansellia africana

Cùng loài: Ansellia gigantea Reichenbach
Thân giống cây sậy, cao tới 60 cm, thân to 2-3 cm. Có nhiều lá và lá mọc thành hai hàng, màu lá là màu xanh đậm, dài 15-50 cm, rộng 1,5-5 cm, hình đai (strap) hẹp. Hoa mọc rời rạc trên vòi hoa, hoa to 4-5 cm, hầu hết có màu vàng nhạt hoặc vàng. Trên các lá đài hoặc cánh hoa đều có những mảng màu nâu sáng hoặc màu hạt dẻ/sô-cô-la đậm, nhưng cũng có vài cấu tạo với màu vàng hoặc màu vàng pha lục và không có những vết đốm, trong khi những chỗ khác lại có những mảng trông như mụn, màu đậm gần như đen. Những loài mà có những mụn với màu đậm thường là loài có hoa to nhất. Các lá đài dài 15-35 mm, rộng 5-10 mm, hình ê-lip. Môi hoa dài 20-25 mm, có 3 thùy, có những gờ ở trung tâm. Các thùy bên hướng lên trên, thùy giữa tròn và có đầu nhọn Trụ hoa dài 10-12 mm. Thường là lan biểu sinh, ở trong các khu rừng thưa, khô ráo. Chúng thường sống trên các chạc ba của cây, trên cao độ 0-700 m, nhưng cũng có khi người ta tìm thấy chúng trên độ cao 2.200 m ở vùng nhiệt đới châu Phi và Nam Phi.